Phân biệt quyền góp vốn và quyền thành lập doanh nghiệp

Có thể thấy quyền thành lập doanh nghiệp có giới hạn về những cá nhân, tổ chức không có quyền là rộng hơn quyền góp vốn vào doanh nghiệp.

Hiện nay nhiều người không biết đã đánh đồng hai khái niệm quyền góp vốn và quyền thành lập doanh nghiệp là một. Tuy nhiên, thực tế hai quyền này là khác nhau, việc phân biệt rõ hai khái niệm này sẽ giúp các cá nhân, tổ chức muốn tham gia kinh doanh không bị nhầm lẫn, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bản thân.

Dưới đây, là bài viết của tư vấn doanh nghiệp Lawkey về vấn đề trên: 

1. Quyền góp vốn vào doanh nghiệp

Quyền góp vốn được hiểu là quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, quyền góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn và quyền góp vốn vào công ty hợp danh. Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh trừ 2 trường hợp sau:

– Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

– Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước (khoản 4 Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng).

2. Quyền thành lập doanh nghiệp:

Quyền thành lập doanh nghiệp được hiểu là quyền của cá nhân, tổ chức được phép thực hiện đăng ký doanh nghiệp, quản lý và điều hành doanh nghiệp đó.

>>> Xem thêm: Dịch vụ thành lập doanh nghiệp trọn gói

Theo quy định thì các trường hợp sau không được phép thành lập doanh nghiệp:

– Cán bộ, công chức, viên chức;

– Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;

– Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;

– Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp Nhà nước, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp

– Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản Nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình.

– Người chưa thành niên;

– Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;

– Tổ chức không có tư cách pháp nhân.

– Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc;

– Người đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án;

– Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng như:

+ Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản mà cố ý vi phạm quy định liên quan có thể bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp trong thời hạn 03 năm (khoản 3 Điều 130 Luật Phá sản 2014);

+ Người có chức vụ, quyền hạn không được thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh (khoản 2 Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018).

Có thể thấy quyền thành lập doanh nghiệp có giới hạn về những cá nhân, tổ chức không có quyền là rộng hơn quyền góp vốn vào doanh nghiệp. Các cá nhân, tổ chức cần lưu ý những điều này để tránh xác định nhầm gây ra những khó khăn khi thành lập hoặc góp vốn vào doanh nghiệp.

>>> Xem thêm: Những dự án nào phải thực hiện theo luật đấu thầu?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *