Những dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu

Điều 73 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định chi tiết các dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu.

Nhãn hiệu là dấu hiệu được dùng để khách hàng hoặc một chủ thể bất kỳ phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân với nhau. Tuy nhiên, có những dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu.

Tư vấn luật Lawkey sẽ trình bày chi tiết về vấn đề này như sau:

Điều kiện bảo hộ của nhãn hiệu:

Căn cứ Điều 72 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì các điều kiện để một dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu bao gồm:

– Là dấu hiệu được nhìn thấy dưới dạng chữ cái từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ảnh ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc

– Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá dịch vụ của chủ thể khác.

>>> Xem thêm: Dịch vụ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

Các trường hợp dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu:

Căn cứ vào Điều 73 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với:

Hình quốc kỳ, quốc huy của các nước.

Biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép.

Tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài.

Dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận.

Dấu hiệu không được bảo hộ khi chứa các dấu hiệu gây hiểu sai lệch:

Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ. Việc tổ chức, cá nhân đăng ký nhãn hiệu làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch sẽ không được bảo hộ.

Trên đây là nội dung về dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

>>> Xem thêm: 6 trường hợp chấm dứt hiệu lực của giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

Để lại Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *